Saturday, October 15, 2016

WHO kêu gọi hành động toàn cầu nhằm giảm tiêu thụ nước uống có đường và những ảnh hưởng xấu của chúng lên sức khỏe con người.

11 tháng 10 2016/GENEVA - Một báo cáo mới đây của Tổ chức Y tế Thế giới WHO cho biết việc đánh thuế lên những loại nước ngọt có đường có thể giúp làm giảm lượng tiêu thụ chúng, từ đó giảm tỷ lệ bệnh béo phì, tiểu đường tuýp 2 và sâu răng trên toàn thế giới.


Những chính sách tài chánh này sẽ làm tăng ít nhất 20% giá bán lẻ các loại nước ngọt có đường, nhằm phần nào giảm lượng tiêu thụ loại nước có đường này, theo một báo cáo có nhan đề "Chính sách tài chánh dành cho ăn kiêng và ngăn ngừa những bệnh không lây (NCDs)".

Giảm bớt việc sử dụng nước uống có đường có nghĩa là giảm nạp đường (free sugar) và calorie nói chung vào cơ thể, qua đó chất dinh dưỡng được cải thiện, và giảm số người mắc bệnh thừa cân, béo phì, tiểu đường và sâu răng.



Free sugar là monosaccharides (glucose hoặc fructose) và disaccharides (sucrose hoặc đường cát) được nhà sản xuất, đầu bếp, người dùng cho vào thức ăn và nước uống, và đường tự nhiên có trong mật ong, sirô, nước ép trái cây và nước ép trái cây cô đặc.

Làn sóng béo phì đang dâng cao

Theo bác sĩ Douglas Bettcher, giám đốc Ban Ngăn ngừa những Bệnh không lây của WHO, "Việc tiêu thụ đường, bao gồm những sản phẩm như nước uống có đường, là nguyên nhân chính gây ra tình trạng gia tăng người mắc bệnh béo phì và tiểu đường trên toàn cầu. Nếu chính phủ các nước đánh thuế cao lên những sản phẩm này, họ có thể giảm số người mắc bệnh và cứu sống người dân. Nhờ đó, có thể cắt bớt chi phí điều trị bệnh và tăng nguồn thu để đầu tư vào các dịch vụ y tế khác".

Trong năm 2014, toàn thế giới có 39% người lớn từ 18 tuổi trở lên bị bệnh thừa cân. Bệnh béo phì đang thịnh hành khắp nơi đã tăng gấp đôi từ năm 1980 đến năm 2014, với 11% đàn ông và 15% phụ nữ (hơn nửa tỷ người) được phân loại béo phì.

Ngoài ra, người ta ước tính có khoảng 42 triệu trẻ em dưới 5 tuổi đang bị thừa cân hoặc béo phì trong năm 2015, tăng khoảng 11 triệu trong vòng 15 năm qua. Gần một nửa (48%) số trẻ em này ở châu Á và 25% ở châu Phi.

Số người sống chung với bệnh tiểu đường cũng đang tăng nhanh, từ 108 triệu năm 1980 lên 422 triệu năm 2014. Là căn bệnh trực tiếp gây ra 1,5 triệu ca tử vong chỉ riêng năm 2012.

Cần phải giảm nạp đường vào cơ thể

"Xét về mặt dinh dưỡng học, người ta không cần bất cứ một hột đường nào trong chế độ ăn uống của mình. WHO cũng khuyến cáo nếu bạn vẫn hảo ngọt, hãy giữ cho lượng đường được nạp vào cơ thể dưới 10% tổng nhu cầu năng lượng của bạn, và những ích lợi cho sức khỏe sẽ càng tăng thêm nếu giảm xuống dưới 5%. Điều này tương đương với dùng ít hơn 250ml nước ngọt có đường một ngày," bác sĩ Francesco Branca, giám đốc Ban Dinh dưỡng cho Sức khỏe và Phát triển của WHO cho biết.

Theo một báo cáo mới đây của WHO, các cuộc thăm dò chế độ ăn uống quốc gia đã chỉ ra rằng thức ăn và đồ uống có hàm lượng đường cao là nguồn cung cấp calorie không cần thiết trong thực đơn của mọi người, đặc biệt ở lứa tuổi trẻ em, tuổi teen và thanh niên.



Báo cáo cũng chỉ ra rằng những người thuộc nhóm có thu nhập thấp, nhóm người trẻ và nhóm người thường xuyên dùng các loại thức ăn đồ uống không có lợi cho sức khỏe, là những nhóm người đáp ứng với lại sự thay đổi giá thức ăn đồ uống nhiệt tình nhất, từ đó, họ đã cải thiện tình trạng sức khỏe rõ rệt. 

Đánh thuế để giảm tiêu dùng

Thuế được đánh vào thức ăn đồ uống có hại để cho nhóm thức ăn đồ uống có lợi cho sức khỏe có cơ hội đến với người tiêu dùng nhiều hơn.

Báo cáo cũng trình bày kết quả của cuộc họp giữa năm 2015 quy tụ những chuyên gia trên toàn cầu do WHO tổ chức và một nghiên cứu trên 11 bài phê bình đánh giá tính hiệu quả của chính sách thuế can thiệp nhằm cải thiện chế độ ăn uống của người dân và ngăn ngừa bệnh không lây và một cuộc họp chuyên môn của các chuyên gia, những phát hiện khác bao gồm:

- Việc trợ giá cho rau quả tươi giảm từ 10% đến 30% có thể giúp tăng lượng tiêu thụ rau quả.

- Việc đánh thuế cao một số thực phẩm đồ uống, đặc biệt những loại có hàm lượng cao chất béo bão hòa, chất béo chuyển hóa, đường hoặc muối, với những bằng chứng rõ ràng cho thấy nếu tăng giá sẽ làm giảm tiêu thụ.

- Thuế tiêu thụ đặc biệt, chẳng hạn như thuế đánh lên thuốc lá, được áp dụng một mức thuế cụ thể cho một số lượng hoặc một khối lượng sản phẩm, hay một thành phần nguyên liệu nào đó tỏ ra hiệu quả hơn là các loại thuế dựa trên phần trăm giá bán lẻ.

- Sự ủng hộ của xã hội đối với việc tăng thuế cũng có thể tăng nếu nguồn thu mà nó tạo ra được dùng để cải thiện hệ thống sức khỏe, khuyến khích những chế độ ăn uống lành mạnh hơn và gia tăng hoạt động thể chất.

Một số quốc gia đã tiến hành biện pháp tăng thuế như trên để bảo vệ người dân khỏi những sản phẩm không có lợi cho sức khỏe. Mexico là quốc gia đã đánh thuế đặc biệt lên các loại đồ uống không cồn nhưng có đường, và Hungary cũng đánh thuế cao lên những sản phẩm đóng gói có hàm lượng đường , muối hoặc cà phê cao.

Những quốc gia như Philippines, Nam Phi và Vương quốc Anh và Bắc Ireland cũng đã tuyên bố sẽ thi hành luật thuế lên các loại đồ uống có đường.

Ghi chú:

Như một phần của những chiến dịch toàn diện nhằm cải thiện sức khỏe con người, một Ủy ban với sứ mệnh Chấm dứt Béo phì ở Trẻ em của WHO (Commission on Ending Childhood Obesity) mới đây đã kêu gọi các quốc gia hãy áp dụng các biện pháp tài chánh trong chương trình "Kế hoạch Hành động Toàn cầu nhằm Ngăn ngừa và Kiểm soát những Bệnh không lây giai đoạn 2013-2020", "Kế hoạch Thực thi Triệt để nhằm Cải thiện Dinh dưỡng cho Bà mẹ, Trẻ sơ sinh và Trẻ em".

Chỉ trong năm 2012, 38 triệu người đã mất mạng vì những căn bệnh không lây, 42% trong số này chết trước tuổi 70 vì những căn bệnh có thể phòng tránh được. Hơn 80% số người chết trước 70 tuổi vì một căn bệnh không lây là ở những nước đang phát triển. Các quốc gia cũng đã cam kết giảm số người chết vì những bệnh không lây, Chương trình nghị sự về Phát triển Bền vững 2030 bao gồm một mục tiêu là giảm số người chết sớm vì bệnh tiểu đường, ung thư, bệnh tim và bệnh phổi xuống còn một phần ba vào năm 2030.

Tại Hội nghị Quốc tế Lần hai về Dinh dưỡng năm 2014, nhiều quốc gia đã cam kết sẽ định hình lại hệ thống thực phẩm của nước mình, và đây cũng là mục đích chính trong tuyên bố mới đây của Liên hiệp quốc Kế hoạch Hành động vì Dinh dưỡng trong Mười năm 2016-2025 (Decade of Action of Nutrition 2016-2025).

Nguồn

Wednesday, September 28, 2016

Thái Lan đang xem xét những ca bị teo đầu ở thai nhi đầu tiên ở Đông Nam Á do vi rút Zika

Theo Bộ trưởng Sức khoẻ Cộng đồng Thái Lan, nhà chức trách nước này hiện đang điều tra bốn ca bệnh đầu nhỏ nghi do nhiễm vi rút Zika trên 3 trẻ và một thai nhi 36 tuần tuổi. Nếu được xác định là đúng, đây sẽ là những ca teo đầu do Zika đầu tiên ở khu vực Đông Nam Á.



Trong số những quốc gia Đông Nam Á có báo cáo gia tăng số người nhiễm vi rút Zika lây qua muỗi, Thái Lan hiện chiếm ngôi đầu bảng trong khu vực với 349 trường hợp được xác nhận, bao gồm 25 thai phụ.

Trong một cuộc phỏng vấn, Bộ trưởng Sức khỏe Cộng đồng Thái Piyasakon Sakolsatayadorn nói cần ít nhất hai ngày để có kết quả từ phòng thí nghiệm, và họ phải xem xét thật kỹ, vì việc nhiễm bệnh ở những ca này đã không được phát hiện trước đó. Ông cũng cho rằng vụ việc này rất nghiêm trọng và là một vấn đề nhạy cảm đối với đất nước Thái Lan.



Cũng theo Tổ chức Y tế Thế giới, hiện chưa có phương cách xét nghiệm cụ thể nào dùng để xác định xem thai nhi sinh ra có bị teo đầu hay không, ngoại trừ siêu âm trong 3 tháng cuối của thai kỳ mới có thể xác định được.

Theo Piyasakon, 3 trẻ này sinh ra bị đầu nhỏ và một trường hợp thai nhi bị đầu nhỏ đã được phát hiện nhờ siêu âm.

Giám đốc Ban Khoa học Dược lý của bộ, Apichai Mongkol tiết lộ trong số 4 người mẹ, có 2 người đã được chẩn đoán nhiễm Zika, còn 2 người kia chưa được xác định nhiễm Zika. 

Mối liên hệ giữa Zika và bệnh teo đầu lần đầu tiên được đưa ra ánh sáng vào năm ngoái tại Brazil, với hơn 1.600 ca bị teo đầu được xác nhận, và họ cho rằng có liên quan đến việc nhiễm Zika từ mẹ.

Các cơ quan Y tế của Hoa Kỳ đã kết luận việc nhiễm Zika ở thai phụ có thể gây ra bệnh teo đầu, một khiếm khuyết bẩm sinh với kích thước đầu em bé nhỏ hơn bình thường, có thể dẫn đến những tổn thương nghiêm trọng đối với sự phát triển của trẻ sau này. Theo WHO, các nhà khoa học trên thế giới nhất trí cho rằng Zika đồng thời gây bệnh Guillain-Barre, một triệu chứng thần kinh hiếm, gây liệt tạm thời ở người lớn.

Cũng theo WHO, những quốc gia mới có báo cáo những ca nhiễm Zika mới gồm có Philippines, Malaysia, Thái Lan, Việt Nam và Singapore, ghi nhận là 393 ca nhiễm kể từ ca đầu tiên vào tháng 8, trong đó có 16 thai phụ.



Hiện có 2 chủng vi rút Zika chính, một là chủng châu Phi, chỉ thấy có ở vùng châu Phi, nơi vi rút này được phát hiện lần đầu tiên vào năm 1947, và chủng thứ hai là chủng vi rút Zika châu Á.

Hiện chưa có vắc-xin hay thuốc điều trị bệnh Zika, bệnh này có liên quan mật thiết với bệnh sốt xuất huyết và bệnh chikungunya (bệnh đi khom lưng do muỗi đốt gây sốt và đau khớp), bệnh Zika gây sốt nhẹ, phát ban và mắt đỏ.

Người ta ước tính có đến 80% người bị nhiễm không có triệu chứng gì, làm cho thai phụ rất khó biết liệu mình có bị nhiễm hay không.

Nguồn

Sunday, September 25, 2016

Người nghiện internet có nguy cơ mắc những căn bệnh về tâm thần

Thanh thiếu niên sử dụng internet quá độ dễ gặp phải những vấn đề về tâm thần, chẳnh hạn như bệnh ADHD (bệnh thiếu chú ý và quá hiếu động), lo lắng, uể oải, những rối loạn chức năng điều hành của não, hành động thiếu suy nghĩ và mất tập trung.


Các nhà khoa học thuộc trường đại học McMaster, Canada, vừa tiến hành một nghiên cứu về ảnh hưởng của internet và mạng xã hội trên 254 bạn trẻ ở lứa tuổi đại học. Các nhà nghiên cứu đã dùng một phương pháp kiểm tra độ nghiện internet - Internet Addiction Test (IAT) được phát triển và đưa vào sử dụng từ năm 1998 cùng với một hệ thống kiểm tra do họ tự thiết kế.

Theo trưởng nhóm nghiên cứu Michael Van Ameringen, giáo sư thuộc trường đại học McMaster, những ai có kết quả dương tính với IAT và hệ thống kiểm tra riêng của trường, đều "gặp rắc rối một cách nghiêm trọng trong các hoạt động thường nhật, công việc, ở nhà, ở trường và giao tiếp xã hội".

theo các tiêu chuẩn của IAT thì có 33 trong số 254 sinh viên bị nghiện internet. 55,8% số sinh viên tham gia khảo sát thú nhận rất khó cưỡng lại sức hấp dẫn của video trực tiếp, 47,9% không thể xa rời mạng xã hội, và 28,5% bị ám ảnh bởi những công cụ nhắn tin ngay lập tức.

Mặc khác, đối với hệ thống thẩm tra mới được phát triển bởi các nhà nghiên cứu, cho thấy số bạn trẻ bị nghiện internet nhiều hơn gấp ba lần. Các nhà nghiên cứu cũng chỉ ra rằng IAT được thiết kế trước khi điện thoại di động được dùng rộng rãi, có thể không còn đáng tin cậy trong bối cảnh hiện nay, vì nó có thể dẫn đến kết quả dương tính sai trong việc phân biệt người dùng internet bình thường với người nghiện internet.


Do bởi sự phát triển như vũ bảo của mạng xã hội, video trực tuyến, các công việc online, tin nhắn nhanh và những thứ tương tự khác trong 18 năm qua, việc dùng internet ngày nay đã khác xưa rất nhiều rồi, Van Ameringen cho biết.

Hệ thống thẩm tra mới cũng được thiết kế để hiểu rõ hơn việc dùng internet hiện tại. Qua đó, các nhà nghiên cứu nhận thấy 42,1% số sinh viên tham gia khảo sát có vấn đề về tâm thần do quá dựa dẫm vào mạng internet.

Van Ameringen cho rằng điều này đã dấy lên quan ngại số lượng tăng người nghiện internet đã bị đánh giá thấp một cách nghiêm trọng, và liệu sự phụ thuộc quá nhiều vào công nghệ có gây ra những vấn đề tâm thần nào khác hay không.

Với những mối quan tâm trên, ông nhận định nghiên cứu đã đem lại một gợi ý thiết thực cho những bác sĩ điều trị bệnh tâm thần khi họ tập trung vào việc sử dụng internet một cách có vấn đề của bệnh nhân.

Van Ameringen cũng cho rằng để hiểu rõ hơn vấn đề nghiện internet và đi đến một giải pháp, cần có những nghiên cứu quy mô lớn với số lượng người tham gia nhiều hơn và những nhóm tham gia cũng đa dạng hơn.

Nghiên cứu trên được trình bày tại Đại hội Dược lý Thần kinh trường Cao đẳng châu Âu lần thứ 29 tại Vienna, Áo.

Theo Viện Cai Nghiện Illinois, những dấu hiệu của tình trạng nghiện internet bao gồm thời gian lên mạng kéo dài, những nỗ lực tách rời internet không thành công, sử dụng công nghệ để thoát khỏi những vấn đề của thực tại và luôn có cảm giác lo lắng, thất vọng chán chường và tội lỗi.

Nguồn

Saturday, September 17, 2016

Vi khuẩn HP có thực sự nguy hiểm

Đau dạ dày là một triệu chứng thường gặp ở nhiều người và nó có thể là dấu hiệu cho biết chúng ta đã bị viêm loét dạ dày.


Căn bệnh này rất dai dẳng, gây khó chịu trong nhiều
năm liền và có thể gây nên những đợt cấp tính rất nguy hiểm, thậm chí có thể phát triển thành ung thư dạ dày. Tiến sĩ - bác sĩ Nguyễn Ngọc Kha - Chuyên
Khoa II Nội Tiêu Hóa Gan Mật - Phòng khám
chuyên khoa Á Châu chia sẻ một số thông tin để bạn đọc có thể hiểu rõ hơn về căn bệnh này.

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến viêm loét dạ dày nhưng nhìn chung, có 3 nguyên nhân chính. Thứ nhất là do dùng các thuốc giảm đau, chống viêm không chứa steroid, aspirin và một số loại thuốc khác. Thứ hai là do stress tâm lý, thói quen sử dụng rượu bia, thuốc lá, các loại thực phẩm gây kích thích niêm mạc dạ dày như trà, cà phê, ớt, tiêu, chanh, dấm... dẫn tới việc dạ dày tiết nhiều axít. Thứ ba và là nguyên nhân quan trọng nhất, là sự xuất hiện của 1 loại vi khuẩn có tên là Helicobacter Pylori trong dạ dày.


Phần lớn các ca viêm dạ dày - tá tràng đều do vi khuẩn HP gây ra và có thể tiến triển thành ung thư. Chúng có mặt trong cơ thể của một nửa dân số thế giới.

HP là một loại xoắn khuẩn gram âm, dài khoảng 2,5 mm và rộng 0,5 mm, có 4-6 roi nên dễ di chuyển trong lớp chất nhày của niêm mạc dạ dày và đây cũng là môi trường trú ngụ của chúng. Chính lớp chất nhày dạ dày đã bảo vệ cho vi khuẩn khỏi sự tác động của axit có trong dịch vị. HP có nhiều men để giúp chúng tồn tại, phát triển và gây bệnh tại dạ dày như men urease: một loại men thủy phân ure (chất có sẵn trong dạ dày) thành ammoniac và từ đó tạo ra môi trường axit thích hợp cho vi khuẩn phát triển nhưng lại gây tổn thương loét cho niêm mạc dạ dày. Khoảng 65-85% bệnh nhân viêm loét dạ dày có nhiễm HP và khi dùng thuốc diệt HP thì phần lớn khỏi viêm loét. Nhiều nghiên cứu thực nghiệm cũng cho thấy HP là thủ phạm chính gây tổn thương niêm mạc dạ dày. Đã có hàng nghìn công trình nghiên cứu trên thế giới khẳng định, HP không chỉ gây viêm loét mà còn có vai trò trong nhiều bệnh lý khác ở dạ dày - hành tá tràng như rối loạn tiêu hóa không loét, u lympho ác tính, ung thư.

Hiện nay, người ta ghi nhận có đến phân nửa dân số
thế giới bị nhiễm HP. Việt Nam là quốc gia có tỷ lệ
nhiễm HP khá cao: hơn 70% dân số. Như vậy, nếu người nào nhiễm HP cũng sẽ bị ung thư dạ dày thì dân số nước ta từ 90 triệu người chắc chỉ còn khoảng 25 triệu trong những năm tới! Ấn Độ và các quốc gia châu Phi có tỷ lệ nhiễm HP cao nhất thế giới, nhưng tỷ lệ ung thư dạ dày ở các nước này rất thấp. Trong khi đó, Nhật Bản và Hàn Quốc là có tỷ lệ ung thư dạ dày khá cao ở châu Á nhưng số người nhiễm HP lại rất thấp! Do vậy, nhiễm HP không phải là nguyên nhân duy nhất gây ung thư dạ dày.

Từ khi phát hiện ra vi khuẩn HP có khả năng sống trong dạ dày, người ta đã chứng minh mối liên quan giữa nhiễm HP lâu ngày làm biến đổi cấu trúc bình thường của niêm mạc dạ dày với sự phát sinh ung thư, nhưng tỷ lệ này rất thấp: khoảng 0,1% mỗi năm. Thật ra, vi khuẩn HP có rất nhiều chủng loại khác nhau. Nếu nhiễm chủng HP có độc lực yếu, thường không gây ra triệu chứng và rất hiếm khi phát triển thành ung thư. Chỉ khi nhiễm chủng HP có độc lực mạnh (mang gien CagA và VacA độc lực cao) mới có thể gây viêm và biến đổi nặng trên niêm mạc dạ dày, từ đó dẫn đến ung thư. Do vậy, không phải nhiễm chủng HP nào cũng bị ung thư dạ dày.

Nguy cơ không ở dạ dày mà ở miệng
Ngoài tác nhân vi khuẩn, sự phát sinh ung thư còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác, chẳng hạn yếu tố di truyền ở từng bệnh nhân. Có những người mang gien di truyền dễ bị ung thư hơn người khác. Ngoài ra, còn có yếu tố huyết thống, cho nên nếu trong gia đình có người bị ung thư dạ dày cũng cần lưu ý theo dõi và tầm soát những người còn lại. Sức đề kháng miễn dịch ở từng bệnh nhân cũng là yếu tố góp phần hình thành ung thư hay không. Đặc biệt, chế độ ăn uống và sinh hoạt hàng ngày là yếu tố rất quan trọng đối với nguy cơ ung thư dạ dày. Người ta cho rằng, dân Ấn Độ có tỷ lệ ung thư dạ dày thấp là do ăn nhiều gia vị như nghệ, hành tây, tiêu đen… Ngoài ra, các thực phẩm giàu chất xơ, nhiều vitamin, đặc biệt là vitamin C từ rau củ quả góp phần bảo vệ, chống các chất oxy hoá và hạn chế ung thư dạ dày.

Ngược lại, thói quen ăn mặn, sử dụng nhiều muối, ăn các loại khô, mắm, các loại thịt cá xông khói, nướng cháy dễ làm phát sinh ung thư hơn. Sử dụng hoá chất bảo quản, các chất kích thích tăng trọng… đang là các vấn đề nóng về an toàn thực phẩm, cảnh báo việc hình thành ung thư sau này. Bên cạnh đó, hút nhiều thuốc lá cũng được xem là yếu tố nguy cơ không chỉ cho ung thư phổi mà cả ung thư dạ dày.

Monday, August 29, 2016

Ung thư hiện là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu tại 12 quốc gia châu Âu

Những bệnh về tim và mạch máu, hay còn gọi là bệnh tim mạch (CVD) vẫn là sát thủ số một gây tử vong cho con người trên toàn thế giới, với 17.3 triệu bệnh nhân toàn cầu. Nhưng tại 12 nước châu Âu, ung thư đã soán ngôi tim mạch để vươn lên vị trí dẫn đầu.


Theo các số liệu mới đây, gánh nặng ngân sách của bệnh tim mạch tại châu Âu năm 2016 cho thấy bệnh tim mạch khiến hơn 4 triệu người chết mỗi năm, chiếm 45% tổng các ca tử vong ở khu vực châu Âu. Khu vực được xác định là 53 quốc gia thành viên của Tổ chức Y tế Thế giới. Tuy nhiên, những thành công trong việc phòng ngừa và điều trị bệnh tim mạch đã làm giảm đáng kể số ca tử vong tại một số nước.

Về tổng thể, mặc dù ung thư chiếm chưa đến một nửa số ca tử vong so với bệnh tim mạch tại châu Âu, 9 trong số 15 thành viên của Liên hiệp châu Âu (European Union) trước 2004 (EU-15) và tại một số nước khác gia nhập EU sau đó (EU-28), hiện nam giới chết vì ung thư còn nhiều hơn tim mạch.

Những nước này bao gồm: Bỉ, Đan Mạch, Pháp, Ý, Luxembourg, Hà Lan, Bồ Đào Nha, Slovenia, Tây Ban Nha và Anh Quốc. Trường hợp tương tự cũng xãy ra tại Na Uy và Israel không phải thành viên EU. Về phía phụ nữ, tử vong vì ung thư nhiều hơn tim mạch xãy ra ở Đan Mạch và Israel.

Tiến sĩ Nick Townsend, nhà nghiên cứu cao cấp tại Trung tâm Quỹ Tim mạch Anh quốc về Khảo sát Dân số để Phòng ngừa những Bệnh Không lây tại Đại học Oxford, nước Anh, người chỉ huy nghiên cứu này nói: "Những con số trên cho thấy có sự khác biệt lớn về số ca tử vong vì tim mạch trong các quốc gia châu Âu. 12 nước có số người tử vong vì ung thư cao hơn tim mạch là những nước Tây Âu. Số ca tử vong nhiều nhất vì bệnh tim mạch lại có khuynh hướng xuất hiện ở Đông Âu."

Tại Pháp, nơi đầu tiên người ta phát hiện ung thư đã soán ngôi tim mạch như là nguyên nhân chính dẫn đến tử vong ở nam giới, theo số liệu thu thập được từ những năm gần đây nhất 2011 thì 92.375 nam chết vì ung thư so với 64.659 chết vì tim mạch. Còn tại nước Tây Ban Nha láng giềng, 67.711 nam chết vì ung thư so với 53.487 chết vì tim mạch vào năm 2013. Cũng năm 2013, tại Anh quốc, 87.511 nam chết vì ung thư so với 79.935 chết vì tim mạch.

Tuy nhiên, cũng theo Tiến sĩ Townsend, mặc dù có được những tiến bộ trong việc ngăn ngừa và điều trị bệnh tim mạch, điều này không đồng đều ở khắp đại lục này. Đông Âu và những quốc gia không thuộc châu Âu vẫn còn tỷ lệ tử vong vì tim mạch cao.

Sự khác biệt trong các quốc gia châu Âu có thể được nhìn thấy qua tỷ lệ tử vong vì tim mạch và tỷ lệ tử vong được chuẩn hóa theo tuổi (age standardised death rate) - ASDR - là tỷ lệ tử vong trên 100.000 dân được điều chỉnh cho cân xứng theo từng nhóm tuổi khác nhau. Trong số 3.8 triệu ca tử vong tại những nước EU-15, 33% là do tim mạch (1.3 triệu), so với 38% tại những nước EU-28 (1.9 triệu), và 54% tại những nước không phải thành viên EU (2.1 triệu).


Tỷ lệ tử vong được chuẩn hoá theo tuổi vì bệnh tim mạch là 275 trên 100.000 nam và 174 trên 100.000 nữ ở Pháp, so với 1.444 trên 100.000 nam và 1.087 trên 100.000 nữ tại Kyrgyzstan. Tại Anh quốc, con số là 334 nam và 228 nữ trên 100.000.

Sự không đồng đều tương tự cũng xảy ra đối với những ca chết yểu (người chết dưới 75 tuổi) vì bệnh tim mạch. Ở những nước thuộc EU-15, những ca chết yểu do bệnh tim mạch là 21.4% (0.25 triệu), ở những nước EU-28 là 26% (0.45 triệu), và ở những nước không thuộc EU là 35.8% (1.3 triệu).

Lần đầu tiên, các nhà nghiên cứu cũng báo cáo số năm sống bị mất do tử vong vì bệnh tim mạch hoặc số năm sống với sự tàn tật do bệnh gây ra, là một phương pháp đo lường số năm được hiệu chỉnh theo mức độ tàn tật (disability-adjusted life years - DALYS). Một DALY bằng một năm sống khỏe mạnh bị mất đi. Điều này cũng nhấn mạnh sự khác biệt tại những khu vực khác nhau ở châu Âu.

Số DALYS bị mất vì tim mạch năm 2012 cao nhất là ở Ukraine (194 trên 1.000 dân), Liên bang Nga (181 trên 1.000), Bulgaria (167 trên 1.000), Belarus (163 trên 1.000) và Latvia (153 trên 1.000). Thấp nhất là ở Luxembourg (39 trên 1.000), Cyprus (37 trên 1.000), Ireland (35 trên 1.000), Iceland (32 trên 1.000) và Israel (26 trên 1.000).

Nhóm tác giả của nghiên cứu trên kêu gọi kiểm tra và giám sát chặt chẻ bệnh tim mạch nhằm giúp các quốc gia châu Âu tiến tới giảm sự không đồng đều đang tồn tại ở đại lục này. Họ cũng chỉ ra rằng nghiên cứu của họ không thể giải thích nguyên do của những mô hình bệnh tim mạch đang hiện diện khắp châu Âu vì đây chỉ là một công trình mô tả những dữ liệu về bệnh tim mạch nhằm cung cấp một cái nhìn tổng quan gánh nặng của căn bệnh này lên châu Âu.

Nguồn

Friday, August 26, 2016

Kiểm tra mắt có thể giúp phát hiện sớm bệnh Parkinson's

Các nhà khoa học tại Viện mắt Đại học Luân đôn, Anh (UCL), đã phát hiện những thay đổi trên võng mạc chuột có thể giúp tiên đoán bệnh Parkinson trước khi những triệu chứng có thể nhìn thấy được như run và cứng cơ bắt đầu xãy ra.


Nếu kỹ thuật trên chứng minh được rằng nó cũng có thể thành công ở người, nó sẽ mở ra một phương pháp không xâm nhập và rẻ tiền để chẩn đoán và điều trị bệnh. Người ta chỉ cần những y cụ của một bác sĩ khoa mắt, có nghĩa là nó cũng có thể giúp theo dõi hiệu quả của tiến trình điều trị bệnh nhân một cách dể dàng hơn.

"Đây là một phát hiện đột phá mang tính cách mạng đầy tiềm năng trong việc chẩn đoán và điều trị sớm một trong những căn bệnh làm hao mòn sức khỏe con người nhất thế giới," trưởng nhóm nghiên cứu Francesca Cordeiro, đại học Luân đôn, nói. "Bằng các xét nghiệm mắt, chúng ta có thể can thiệp sớm hơn nhiều và điều trị hiệu quả hơn những người mắc căn bệnh tàn khốc này."

Bệnh Parkinson, một rối loạn thoái hóa của hệ thần kinh trung ương, từ trước đến nay chỉ có thể được chẩn đoán bởi những nhà thần kinh học. Nhưng việc chẩn đoán cũng không thể chắc chắn bằng một xét nghiệm hay một quét não đơn thuần. Các bác sĩ thường phải kết hợp nhiều xét nghiệm và đo đạt khác nhau mới xác định được bệnh.

Nguyên nhân là vì bệnh thường khởi phát với những triệu chứng nhỏ, khiến bệnh nhân dể dàng phớt lờ cho qua, chẳng hạn như mất kiểm soát vận động và run cơ. Nhiều người đã không đi khám bác sĩ để được chẩn đoán cho đến khi bệnh trở nặng - lúc này, thường thì hơn 70% tế bào sản sinh dopamine đã bị hủy diệt rồi.

Với kỹ thuật mới này, người ta soi sáng vùng phía sau của mắt và xác định xem có bao nhiêu tế bào trong võng mạc, còn được gọi là những tế bào hạch võng mạc (RCGs), đang đi đến sự chết của tế bào, cũng như dò tìm dấu hiệu các chổ bị sưng trong khu vực đó.

Để tìm hiểu kỹ vấn đề này, nhóm nghiên cứu đã sử dụng chuột được làm cho mắc bệnh Parkinson. Họ dò tìm những tế bào tự chết theo chương trình (apoptosis) - RGC - và những chổ sưng trong mắt chuột nhiều ngày trước khi chuột bộc phát những triệu chứng của bệnh. Các nhà nghiên cứu đã có thể nhận thấy những dấu hiệu của bệnh trong mắt chuột vào ngày 20, và những triệu chứng thường gặp ở bệnh Parkinson xuất hiện ở ngày 60.

Nhóm nghiên cứu cũng tìm hiểu xem liệu việc tiến hành điều trị bệnh ở giai đoạn sớm này có thu được lợi ích gì không.

Họ cho chuột dùng một loại thuốc mới điều trị đái tháo đường có tên là rosiglitazone, và nhận thấy rằng bằng cách điều trị sớm, họ đã có thể giảm rất hiệu quả số lượng tế bào thần kinh bị tổn thương, so với những con chuột không được điều trị sớm.


"Khám phá này là một tiềm năng trong việc giới hạn và có lẽ là loại trừ nổi đau của hàng ngàn bệnh nhân Parkinson nếu chúng ta có thể chẩn đoán sớm và điều trị bằng công thức mới này," tác giả thứ nhất, tiến sĩ Eduardo Normando, bác sĩ cố vấn khoa mắt tại bệnh viện mắt Western và UCL cho biết.

Nguồn

Saturday, August 13, 2016

9 loại thực phẩm giàu vitamin và khoáng chất giúp ngăn tóc bạc lan rộng

Tóc bạc xuất hiện ở một độ tuổi nào đó của con người, thường là khi ta bước vào tuổi 30 hoặc 40, khi đó tóc chúng ta bắt đầu đổi màu. Cho dù tóc bạc là dấu hiệu đương nhiên của lão hóa, nó cũng tạo ra sự phiền toái và không ai có thể tránh được.

Những người quan tâm đến vẻ ngoài của mình, đặc biệt là mái tóc, thường thích mua những sản phẩm trên thị trường mà không hề biết rằng họ có thể ngăn tình trạng tóc bạc sớm bằng cách ăn nhiều thực phẩm dinh dưỡng để đạt được kết quả mong muốn một cách tự nhiên hơn.

Do đó, họ nên ăn các loại thực phẩm giàu vitamin B complex thay vì sử dụng những sản phẩm chứa chủ yếu là hoá chất.

Vậy loại thực phẩm nào là tốt nhất cho phương thuốc trị tóc bạc.

Chế độ ăn cân bằng dưỡng chất và từ bỏ thói quen hút thuốc lá sẽ giúp bạn chống lại sự xâm lăng của tóc bạc.

Sự thiếu hụt vitamin B12 complex là nguyên nhân chính làm tóc bị chuyển sang màu trắng, vì vitamin này làm tăng những hắc tố phù hợp. Vậy, hãy thử ăn cá hồi, cá ngừ, trứng, thịt bò, phô mai và những loại thực phẩm dinh dưỡng khác có chứa nhiều vitamin B.

Và xin chớ quên việc lạm dụng rượu bia, cà phê và thuốc lá sẽ càng làm tăng cơ hội cho tóc bạc sớm.

9 loại thực phẩm hàng đầu giúp bạn chiến đấu chống lại tóc bạc.

Những nhóm thực phẩm giàu đồng, kẻm, sắt, vitamin B complex, axít béo omega 3, axít folic và thảo dược thiên nhiên sẽ ngăn chặn sự bạc tóc. Chúng không chỉ ngăn tóc bạc lan rộng mà còn có ích trong việc dưỡng tóc và da đầu.

Gan bò

Loại thực phẩm này chứa đầy kẻm và đồng, và những chất này sẽ giúp ngăn chặn tóc bạc sớm. Vậy bạn có thể dùng gan bò để bảo vệ tóc của mình, nếu bạn không bị bệnh tim hay colesterol cao.

Nấm


Bạn có thể dùng nấm Linh chi (Reishi) như một phương thuốc điều trị tóc bạc. Loại nấm này được phát hiện ở Trung quốc và chứa một lượng dược tính lớn. Thành phần thảo dược tự nhiên có trong nấm đã được chứng minh có công dụng ngăn chặn tóc bạc tại Trung quốc.

Hàu



Hàu là một loại hải sản chứa rất nhiều dược chất tự nhiên giúp chống bạc tóc. Nếu bạn không thể ăn hàu trực tiếp, bạn có thể dùng dầu hàu có bán ở các chợ để thoa lên da đầu. Hỗn hợp dầu dừa và dầu hàu thực sự rất hiệu quả trong việc nuôi dưỡng tóc.

Các loại rau lá xanh



Sự thiếu axít folic cũng là một nguyên nhân gây ra tóc bạc. Axít folic giúp tóc khỏe, da đầu đẹp vì nó chứa nhiều protein cho tế bào tóc khỏe. Nên ăn nhiều loại rau lá xanh đậm, củ dền, súp lơ, rau diếp và rau bina vì trong chúng có nhiều axít folic.

Quả việt quất (blueberries)



Khi cơ thể không được cung cấp đủ vitamin B complex và đặc biệt là B12, đồng, iốt và kẻm, thì tóc bạc sẽ xuất hiện. Vì những thành phần trên giúp sản sinh ra hắc tố. Và quả việt quất chứa tất cả những thành phần dinh dưỡng này nên rất hiệu quả trong việc giảm tóc bạc.

Hạt



Người ta nhận thấy có nhiều dược chất thiên nhiên tốt cho tóc ở trong các loại hạt. Sử dụng hỗn hợp dầu hạnh nhân, nước cốt chanh và nước cốt amla (còn gọi là quả lý gai) để thoa lên da đầu cũng đạt hiệu quả tốt trong cuộc chiến đẩy lùi tóc bạc.

Hạt hướng dương



Hạt hoa hướng dương chứa đầy vitamin E, sắt, kẻm và vitamin B6. Vitamin B6 này thực sự là một yếu tố quyết định trong việc ngăn chặn tình trạng muối nhiều hơn tiêu trên mái tóc của bạn. Hãy làm ấm dầu hướng dương trước khi thoa đều lên da đầu, và hãy đợi xem nó lấy lại tóc đen cho bạn nhanh thế nào.

Cá hồi



Cá hồi cung cấp một loại axít béo có tên omega 3, là một chất rất có lợi cho sự phát triển da đầu và tóc. Cá hồi cũng chứa nhiều chất dinh dưỡng thiết yếu cho tóc khác như protein, vitamin B complex, khoáng chất v...v...

Và nếu bạn muốn giải quyết vấn đề tóc tai của mình, bạn nên ăn cá hồi 2 lần một tuần.

Cá ngừ

Thêm một nguồn rất giàu protein và axít béo omega 3 nữa, là cá ngừ. Cá ngừ được biết đến như một loại thực phẩm có nhiều protein tươi. Protein đã từng được chứng minh là rất tốt cho việc phát triển tóc cũng như ngăn chặn tóc bạc.

Những thực phẩm kể trên có đủ để ngăn ngừa tóc bạc hay chưa?

Nếu bạn có khuynh hướng xử lý vụ tóc bạc theo kiểu thiên nhiên hơn là sử dụng những sản phẩm hóa chất, vậy thì 9 loại thức ăn này thích hợp dành cho bạn. Cho dù chúng có thể không đem đến hiệu quả tức thời, đừng vì thế mà bỏ qua lợi ích dài lâu của chúng.
Chúng không chỉ giúp ngăn chặn tóc bạc, mà còn tăng cường dưỡng chất cho da đầu và tóc.

Những thủ phạm chính gây ra vụ tóc muối tiêu phải kể đến lão hóa, những vấn đề về gien và di truyền, stress kéo dài, ăn uống thiếu chất. Thật đáng buồn nếu tóc bạc xuất hiện khi chúng ta còn trẻ. Do đó, hãy thử sử dụng 9 loại thực phẩm trên để có thể chăm sóc tóc một cách tốt nhất và bảo vệ tóc khỏi bạc sớm.

Nguồn